Đậm đà hương vị bánh gio đảo Hà Nam

0
1237

Hầu như khắp miền Bắc, nơi nào cũng có món bánh gio. Bánh gio làng đảo Hà Nam (TX Quảng Yên) cũng khá nổi tiếng khi mang vị đậm đà rất riêng của vùng quê lúa nước.

Trước kia, bánh gio thường được làm vào mỗi dịp lễ, Tết để bán hay cúng tổ tiên, nhưng để đáp ứng yêu cầu của thị trường, giờ đây, bánh gio đã được làm quanh năm. Làm bánh gio trở thành nghề phụ truyền thống ở làng quê Hà Nam.

1

Người làm bánh gio lựa chọn gạo ngon, gói thành những chiếc bánh gio đẹp, đều đặn.

Để làm được bánh gio đạt chất lượng thơm ngon, hấp dẫn thì ngoài thực hiện đúng công thức, người làm bánh phải thực sự yêu nghề, cẩn trọng, tỉ mỉ ở từng khâu trong quy trình làm bánh. Nguyên liệu chính của loại bánh này là gạo nếp. Muốn có được bánh ngon, người làm nghề phải chọn gạo nếp mùa mới trắng, tròn, đều hạt và thơm, đem sàng sảy kỹ, chọn bỏ các hạt xấu và gạo tẻ lẫn vào. Bởi chỉ cần lẫn chút gạo tẻ, bánh sẽ bớt đi độ dẻo, vị thơm vốn có.

Gạo vo xong được hong khô rồi đem ngâm với nước gio khoảng chừng 5 giờ. Nước gio, thứ nước được chưng cất từ tro loài cây giá sống ở rừng ngập mặn ven sông Bạch Đằng. Người làm bánh phải kỳ công đi chặt cây giá, đem về đốt lấy bột, ngâm, lọc đi lọc lại để lấy nước trong, hòa với vôi lắng để ngâm gạo. Như vậy, nước gio mới chính là cái “hồn” để tạo hương vị bánh đượm nồng, ngai ngái đặc trưng. Cầu kỳ trong cách chế biến nước gio chính là điểm tạo nên sự khác biệt giữa bánh gio Hà Nam với bánh gio ở các nơi khác.

Mỗi loại bánh lại có một thứ lá gói riêng. Bánh gio chủ yếu dùng lá dong và lá chuối. Người làm bánh chọn lá đẹp, lành, phơi lá, luộc lá cho mềm, rửa sạch. Làm khuôn bánh cũng thật kì công. Những lá luộc rồi được đặt bên trong, bao bọc bên ngoài là một lớp lá chuối và lá dong xanh, cuộn lại thành khuôn.

Khi gạo ngậm nước, căng tròn, mọng hạt, người làm bánh vớt ra rồi trộn cùng một lượng vừa đủ ruột gấc đỏ cho gạo thêm màu tươi tắn và có vị ngọt bùi. Khuôn bánh đã xong, gạo đã trộn đều, mới bắt đầu đổ gạo vào khuôn, sau đó gói miệng khuôn lại và dùng dây chuối hoặc dây đay, dây nilon xé nhỏ, buộc bánh cho chặt.

Luộc bánh cũng lắm công phu. Bánh được xếp vào nồi theo chiều đứng, phải kín mà không quá chặt, có thế bánh mới chín đều và đẹp. Lửa phải giữ cho đủ độ, như vậy bánh mới chín rền, mềm mà không nát. Ai đã từng chăm chút cho nồi bánh sôi hàng giờ bên bếp lửa mới hiểu được niềm vui của người làm nghề khi cất được mẻ bánh thơm ngon, đẹp mắt.

Khi ăn bánh gio, bóc lần lá bọc bánh ra, lấy chính sợi dây buộc để xắt bánh thành từng khẩu vừa miệng để vào đĩa. Bánh ngon là bánh trong, nhuyễn, dẻo và rền. Bánh thường ăn cùng với mật ngọt sánh vàng hoặc đường phên đậm đà, khiến người thưởng thức cảm nhận được rõ nét sự hòa quyện ngọt mát, hấp dẫn.

Làm bánh gio với người dân vùng đảo Hà Nam không chỉ vì lẽ mưu sinh mà nó được coi là một cách thể hiện cái tâm của người làm bánh, bởi với họ, đây chính là cách gìn giữ những nét đẹp truyền thống của cha ông để lại.

        Thùy Dương (Trung tâm TT&VH TX Quảng Yên)